Đi tìm những địa danh xưa nay của Bình Thuận

  

   

  

  

   

  

 

Cù Lao Câu. Ảnh: Đình Hòa

Một vài địa danh tính từ phía Bắc của tỉnh trở vào trở thành địa điểm hành chính và khá thông dụng như Cù Lao Câu, là một hòn hòn đảo nhỏ thuộc biển Tuy Phong, theo Bản đồ hàng hải 1841 ( thư viện ĐH Yale – Phạm Hoàng Quân dịch – Nhà xuất bản VHVN, năm nay ), gọi là Tân Lang Dữ ( Hòn Tân Lang ) nhưng trước đó map tuyến đường biển Đông Ấn Độ 1618 – 1625 ghi là “ Pole cecir de Tere, map của Taberd ghi “ Cù Lao Cau – Seu Pulo Terrie ” … tương thích với lý giải Tân Lang có nghĩa là Cây Cau và hòn / dữ là hòn hòn đảo, cù lao nhưng do bị đọc chệch âm từ Cau thành Câu. Cũng do đó mà suy diễn, ở hòn hòn đảo này có được môi trường tự nhiên món ăn hải sản phong phú và đa dạng, gần bờ nên ngư dân chọn nơi này làm điểm hành nghề “ câu ” cá rất thuận tiện .Nối dài bờ biển Quận Bình Thạnh ( Tuy Phong ) có bãi đá bảy màu độc lạ là mũi La Gàn phiên âm từ chữ Hán La Càn, La Xa rồi chuyển qua chữ Latin là Lagan, tương tự như như nhiều địa điểm trên map của Pháp. Năm Minh Mạng thứ 6 ( 1825 ) đổi tên La Hàn từ phiên âm tên gốc của Chăm. Trong sách Đại Nam nhất thống chí ( ĐNNTC-1965 ) nói về Đầm cá ngoài biển có ghi thời Minh Mạng thứ 18 ( 1837 ) toàn tỉnh có 7 sở, trong đó có đầm La Hàn, để trưng thu thuế đầm. Vịnh biển La Loan theo phân biệt thời xưa phía bắc từ mũi La Hàn đến phía nam là mũi Vị Nê. Cùng cách phiên âm theo chữ Latin dưới thời Pháp thuộc trên An Nam đại quốc họa đồ ( 1838 ) của nhà truyền giáo Giám mục Taberd ghi Vị Nê Sơn nhưng theo cách viết Hán Nôm thì Vị Nê úc ( vũng Vị Nê ), Vị Nê chủy ( mũi Vị Nê ) … từ từ viết theo người Việt là Mũi Nê / Nê chủy … và người Pháp ghi Muiné. Diễn giải theo địa hình mỏm núi / mũi đất nhô ra biển, nơi đây là chỗ lý tưởng cho ghe thuyền núp gió tránh bão của người Việt thì địa điểm Mũi Né có nguyên do sống sót, thân thiện hơn .Với địa điểm Phú Hài ( Phan Thiết ) ngày này đã từng lần lượt mang những tên Phố Hời, Phố Hài, An Hải, Phú Hải, Phú Hài … Theo sách xưa, từ năm 1854 khi cải đổi từ huyện Tuy Định thành huyện Tuy Lý, phần đất phía Nam của Bình Thuận, trong đó địa điểm Phố Hài gắn với con sông và ngọn núi Phố Chăm. Ngày nay phường Phú Hài, thuộc thành phố Phan Thiết là một cụm di tích lịch sử gồm di tích lịch sử Lầu Ông Hoàng xây từ năm 1910 chỉ còn là phế tích, di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật và thẩm mỹ tháp Pô Sah Inư thờ thần Si Va kiến thiết xây dựng cuối thế kỷ VIII ( theo Địa chí Bình Thuận ), cạnh đó có chùa Bửu Sơn được vua Cao Hoàng triều Nguyễn đặt tên Ngự tử Bửu Sơn tự .

Tuy vậy có nhà nghiên cứu cho rằng vùng đất có địa hình cao này – đồi Bà Nài, đồi Ngọc Lâm – từ xa xưa là đất cư dân Chăm sống nghề truyền thống bên cạnh bờ biển có làng chài. Khi ấy trung tâm Phan Thiết, các làng Bình Hưng, Đức Thắng, Đức Nghĩa là vùng đất trũng thấp. Cho nên tên Phố Hời là hợp lý theo cách gọi ngày xưa khi nói về người dân tộc Chăm là người Hời, người Chàm… Về sau từ Hời lại đọc chệch thành Hài nhưng nếu quá nặng về giải nghĩa của Phố/Phú, Hời/Hài thì sẽ không đến đâu cả.

Có một địa danh tuy đã thành quen thuộc nhưng phân tích ngữ nghĩa vẫn chưa mấy ai chấp nhận. Đó là hòn đảo nhỏ cách bờ khoảng hơn 400 m có tên gọi Kê Gà hay Khe Gà, Khê Gà… với công trình kiến trúc cổ 120 năm – tháp Hải đăng nổi tiếng. Dãy động cát dài trên phần đất liền đối xứng với đảo hải đăng, theo “Đông Tây dương khảo” trong truyện Chiêm Thành thì đây là ngọn đồi cát cao, ghe thuyền ngoài biển nhìn vào thấy màu đất đỏ ẩn mình trong rừng cây xanh có tên Xích Khảm Sơn. Sách ĐNNTC thì gọi dãy động này là núi Cẩm Kê và mô tả “Phía nam sát biển, có những hòn đá lớn nằm ngang ra bờ biển. Ở ngoài có hòn đảo tên là Kê Dữ (Đảo Gà)”. Ngày xưa hòn đảo hải đăng là một phần đất của Xích Khảm Sơn/ Cẩm Kê Sơn bị sóng biển xâm thực và tách rời khỏi đất liền. Ở đây có một khe (con lạch) suối nước ngọt, hàng ngày có đàn gà rừng mang bộ lông màu sặc sỡ đẹp như lụa gấm (Cẩm Kê) bay ra khe suối uống nước nên có tên Khe Gà rồi phiên âm Hán Việt là Cẩm Kê, Kê Dữ. Gần đó, cũng có một dòng suối từ một cánh rừng già chảy ra biển, theo sách ĐNNTC gọi đó là rừng Đại Khê/ Khe, người dân địa phương gọi là Khe Cả. Cũng như Khe Gà hoặc đọc Khê Gà vẫn cùng một nghĩa…Nhưng khi viết trên bản đồ người Pháp lại phiên âm Kéga. Nếu theo nghĩa Hán Việt thì Kê Gà thành Gà Gà, nhưng được lý giải do từ cách phát âm và người Pháp viết không có phụ âm KH và H nên địa danh Khe Gà/ Khê Gà trên bản đồ chỉ ghi phụ âm K để rồi thành Kega…

Nói đến địa danh phải coi quy luật biến đổi là đương nhiên do yếu tố ngôn ngữ, lịch sử, nhưng cơ sở để xác định vẫn phải thấu đáo được cái nguồn gốc của địa danh đó. Có nhiều địa danh gốc từ dân tộc Chăm, miền núi khi ghi chép qua âm ngữ bằng Hán – Nôm – Việt rồi áp đặt ý nghĩa cho địa danh đó dù không có liên quan gì, tức giữ âm mà đổi nghĩa hoặc giữ nghĩa mà đổi âm. Ở xã Tân Thành (huyện Hàm Thuận Nam) có núi Bà Đặng nhưng nhiều người vẫn nhầm lẫn là núi Tà Đặng, một phần vì lân cận có các địa danh Tà Cú, Tà Mon, Tà Dôn nên cho Tà cũng là thành tố của địa danh. Núi Bà Đặng là địa danh huyền thoại. Sách ĐNNTC gọi là núi Thị Đặng, vậy với chữ Tà (Néak Ta – ông thần) phải khác xa với Bà/Thị… Tương tự ở Bắc Bình có con sông Mao, cách đó không xa có đập nước Ma-Ó và địa danh làng Sông Mao/ Sài Gòn 2 một thời trước 1975 nổi tiếng ăn chơi nhộn nhịp. Cư dân ban đầu đa phần gốc người Hoa, từ Móng Cái (Quảnh Ninh) vào định cư, nay thuộc xã Hải Ninh (Bắc Bình). Theo Inrasara.com (tác giả Chế Vỹ Tân), trước đây trên cánh đồng ruộng của người Chăm có con sông nhỏ chảy ngang với tên gọi Hamu Pa-auk/ Pa-ó (Cây Xoài), về sau đọc là Ma-Ó và cách viết của người Pháp dấu sắc ở nguyên âm O không thể hiện được nên Ó thành O và không còn dấu ngang (-) nên trở thành MAO (Sông Mao). Tức không còn quan hệ về ngữ âm ngữ nghĩa, sẽ dẫn tới ý nghĩa đích thực của địa danh không còn chính xác.

Vẫn còn không ít những địa điểm đang phổ cập và cả trong những văn bản hành chánh chưa có sức thuyết phục về ngữ nghĩa, chữ viết do bị biến hóa chủ quan. Trong đó yếu tố dịch nghĩa, phiên âm có tính quyết định hành động đến nguồn gốc, ý nghĩa bắt đầu của địa điểm. Nhiều địa điểm từ thời phong kiến, Pháp thuộc được ghi chép bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm rồi chuyển qua chữ Việt. Sẽ có nhiều chưa ổn từ dịch nghĩa hay qua phát âm bị chệch, lỗi chính tả, do kiêng cử ( cầu Quan / cầu Quang, Tấn Linh / Tánh Linh, La Di / La Gi, Phù My / Phò Trì … ) .Một số địa điểm khá quen thuộc được dẫn ra không hẳn là rất đầy đủ mà nhằm mục đích tìm đến những người từng thưởng thức, thấy được ý nghĩa địa danh không chỉ tái hiện một thời thời xưa mà còn nối dài với tiến trình tăng trưởng ngày hôm nay. Một nhà điều tra và nghiên cứu về Địa danh đã nói thật chí lý : “ Chúng ta phải giải nghĩa từ ngữ của người xưa và nhất là đi vào việc lý giải địa điểm ” ( Huỳnh Công Tín – Chuyện địa điểm và chữ nghĩa Nam bộ – Nhà xuất bản VHVN, 2018 ). Cho nên với những quan điểm đống ý hay phản bác vẫn là thiết yếu .Phan Chính