LỊCH SỬ TÊN GỌI LAGI

Trở lại thời mở đất
Lần theo bước chân của Tư nghiệp Nguyễn Thông khi nhận chức Doanh điền sứ Bình Thuận (1877) đã lặn lội tận cùng núi cao hiểm trở từ phía tây Bình Thuận qua hướng bắc Biên Hòa, hết lòng với công việc của nhà quy hoạch.
Bạn đang đọc: Tư liệu: Nguồn gốc tên gọi các địa danh tại Bình Thuận
Những địa điểm có từ trước đó sống lại trên trang sớ dâng vua “ Nghi thỉnh thượng du đồn khẩn sự nghi sớ ” ( sớ xin lập đồn điền khai khẩn vùng thượng du ). Khi yêu cầu mở tuyến đường nối biển với vùng cao, Nguyễn Thông có nói đến những địa điểm như La Di thuộc “ phủ ” Hàm Tân ( phải chăng do người dịch ? ) và ước đạt quảng đường dài tính bằng đêm xe đi. Rồi ở vùng lân cận đã có Bác Dã ( Đồng Kho ), Lạc Hải ( Biển Lạc ) thuộc Tánh Linh và Cao Cương ( Tân Lập ), Thiển Môn ( Cửa Cạn ) thuộc Hàm Thuận Nam, Hàm Tân có Canh Man ( Sông Phan ) … Tất nhiên có những cơ sở từ sử liệu Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán nhà Nguyễn ( 1802 – 1845 ) mà Nguyễn Thông liên tục trong quy trình khảo sát thuộc địa .
Có điều làm cho không ít người mãi do dự tại sao những văn bản cũ đều ghi chép La Gi ngày này là La Di dù rất khan hiếm trên những văn bản của Nhà nước phong kiến. Chữ viết địa điểm La Gi chỉ Open trên những báo cáo giải trình Toà công sứ Bình Thuận như thời kỳ 1921 – 1934 ( Rapport D’ensemble ), địa bạ tức thời kỳ Pháp thuộc, lúc đó Hàm Tân còn là một làng thuộc tổng Đức Thắng, phủ Hàm Thuận. Sự biến hóa này hoàn toàn có thể lý giải từ cách viết tựa như như Hòn Bà viết thành Hòn Bò ( Ile de la Vache ), Khê Gà trại ra Kê gà ( Kéga ) Phố Hời viết Phú Hài, Phù My gọi Cù My, Phù trì đọc Phò Trì …
Cũng có người liên hệ 1 số ít địa điểm trong tỉnh như La Gàn, La Dạ, La Ngâu, La Ngà … với La Gi rồi suy diễn đây là đất thiên di của người Chăm hay người dân tộc bản địa miền núi ? Ngoài di tích lịch sử Hòn Bà ( hòn đảo Thiên Y ) có tượng đá A – Diễn-Bà gọi là đền thờ Bà Chúa Ngọc mang gốc gác tín ngưỡng và thần thoại cổ xưa của người Chăm. Còn cả một vùng đất rộng chỉ cách bờ biển không đầy mười cây số thì có vài nhóm sắc tộc thiểu số miền núi Rắc lây, Kơ ho, Châu ro … và người Chăm định cư ở Bà Giêng, Sông Phan, Suối Kiết, Hiệp Nhơn, Phò Trì … Cộng đồng dân cư La Gi chỉ mở màn khi có mạng lưới hệ thống dịch trạm được thiết lập ở Tam Tân ( Thuận Trình ), Hàm Thắng ( Thuận Phương ) và Phước L ? c ( Thuận Phước ) bên hữu ngạn cửa sông La Di. Các dịch trạm ở La Gi đều chiếm vị trí cửa biển. Do đó có ba khu vực dân cư truyền kiếp nhất là Tam Tân, La Gi, Hàm Thắng. Từ đó nhà truyền đạo công giáo Huỳnh Công Ẩn đã đến xứ Tân Lý ( 1885 ) rồi sau đó là Cù Mi – Hàm Thắng ( 1887 ). Thuở ấy đất đai phía nam Bình Thuận nằm lấn sâu vào địa phận Bà Rịa lúc bấy giờ, kể từ ngày 7-11-1905 Toàn quyền Đông Dương quyết định hành động đem phần đất này gọi là Khánh Sơn và 3 xã của người thiểu số Hùng Nhơn, Nhu Lâm, Thừa Tích ( tức Bàu Lâm, Bưng Riềng, Bông Trang, Hòa Hiệp, Hòa Bình, Hòa Hội … ) nhập vào tỉnh Bà Rịa với cớ không thu được thuế cho chính phủ nước nhà Nam triều nhưng trong sâu xa là gặp sự chống đối mạnh của nghĩa quân chống Pháp .
Đất đai Hàm Tân thì rộng nhưng dân cư chỉ tăng trưởng theo những cửa sông và từ sau cách mạng tháng 8/1945 mới định hình một vùng địa thế căn cứ kháng chiến chống Pháp. Không có gì lạ khi hình thành dân cư là những nhóm dân sống dựa vào nghề biển nhưng với điều kiện kèm theo ghe thuyền quá thô sơ mà biển lại bát ngát, sinh mạng con người trở nên nhỏ xíu với bao thảm họa nhung k ? c ? nh đất đai phong phú rồi gắn bó cho đời sống nông nghiệp sau này .
Lập huyện Hàm Tân
Rắc rối khác thường gặp với những người ở xa mới đến, phát âm theo vần đọc là “ la ghi ” ! Dù có nhiều cơ sở chứng tỏ nếu viết đúng chữ thì phải là La Di, nhưng quá lâu rồi La Gi đã thấm đậm trong mỗi con người từng sống ở đây nên từ cách đọc cho đến con chữ, viết ra thấy cũng hay hay, thân thiện dường nào. Những tên xã, thôn lân cận như Tân Long, Tân Lý, Phước Thọ, Phước Lộc, Xóm Rẫy … cũng từ mảnh đất làng quê La Gi phong phú rất lâu rồi .
Thời phong kiến có những con người từ phương xa đến lập nghiệp, bằng công sức của con người, quyền thế, tiền của lan rộng ra thêm phần “ điền thổ ” của mình rồi quy tụ bà con họ tộc. Có trường hợp mua chức làng để thống trị dân đinh xiêu tán .
La Gi bắt đầu chỉ là tên gọi một đồn binh có lính xích hậu canh gác ở cửa tấn La Di. Nơi này có đặt trạm dịch ( Thuận Phước ) mà con sông đó không biết từ khi nào lại đổi thành sông Dinh ( theo người Chăm sông Dinh là Karaung tìng – và con sông nào chảy qua khu đông cư dân thường gọi sông Dinh ), phát nguồn từ núi Ông chảy ngang địa phận Hàm Tân-La Gi dài khoảng chừng 46 km, là con sông lớn nhất của huyện. Liên quan đến địa điểm Phước Lộc, có tư liệu cho rằng Open từ thời Tả quân Lê Văn Duyệt trong cuộc phò vương đức Thế tổ Gia Long. Khi Hàm Tân là một đơn vị chức năng hành chánh cơ sở ( làng ) thuộc tổng Đức Thắng ( Hàm Thuận ) và đến năm Bính Thìn 1916 xây dựng huyện mới có 2 tổng : tổng Phong Điền ( có những làng Phong Điền, Hiệp Nghĩa, Tam Tân, Tân Lý ) và tổng Phước Thắng ( có những làng Phước Lộc, Hàm Tân, Phò Trì, Hàm Thắng. Thắng Hải ). Huyện đường đặt trên phần đất làng Hàm Tân nên trở thành tên huyện. Trên những sách vở đất đai đến năm 1943 còn ghi làng Hàm Tân, tổng Phước Thắng, huyện Hàm Tân .
Nói đến điạ danh xưa, cũng tại sớ xin lập đồn điền của Nguyễn Thông có đề cập đến xã Cao Cương, tổng Bình Tuy, theo diễn đạt ở vào khu vực xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam ngày này. Nhưng điều đáng quá bất ngờ hơn là đ ? a danh tổng Bình Tuy. Khi Ngô Đình Diệm cầm quyền dưới thời Mỹ chiếm đóng miền Nam đã ký sắc lệnh số 143 / NV ngày 26/10/1956 xây dựng tỉnh Bình Tuy gồm một phần đất của Bình Thuận, Long Khánh và Lâm Đồng … thì có người lý giải tỉnh Bình Tuy là ghép bởi 2 tỉnh Bình Thuận và Phước Tuy. Thực ra tỉnh Phước Tuy ( t ? ph ? Phu ? c Tuy có du ? i th ? i Minh M ? ng th ? 18-1837 ) cũng là tỉnh được xây dựng cùng lúc với tỉnh Bình Tuy, phải chăng Bình Tuy có từ một địa điểm rất lâu rồi được sử dụng lại ? Có thể hoài nghi đơn vị chức năng hành chính từ huyện ra phủ do lỗi áp đặt nhưng về địa điểm thì hiếm có sự tùy tiện được. Cũng dễ tạo ra sự phân vân bởi lúc bấy giờ cách viết địa điểm theo sự tưởng tượng hoặc cố ý làm mới như Tà Cú thành Tà Kóu, Tà Dôn viết Tà Zôn, Bà Đặng ra Tà Đặng, Cầu Kiều hoá Kô Kiều …
La Di hay La Gi ?
Địa danh LaDi, Hàm Tân đã có từ trước khi triều đình nhà Nguyễn đổi dinh Bình Thuận thành tỉnh gồm 2 phủ Hàm Thuận, Ninh Thuận và 4 huyện. Lúc ấy Hàm Tân chỉ là một làng thuộc huyện Tuy Định rồi Tuy Lý ( đổi từ huyện Tuy Định 1854 ). Năm Thành Thái thứ 7 ( 1895 ) cắt một phần đất của Tuy Lý lập huyện Tánh Linh. Tại một dụ số của Duy Tân được toàn quyền Pháp chuẩn y ngày 3/5/1916 xây dựng Trung kỳ tách ra một tỉnh là Lâm Viên và lập thêm 1 số ít huyện mới, trong đó có Hàm Tân. Điều này cũng tương thích qua ký ức của những người cùng thời và trên những văn tự khan hiếm .
Thời gian có tác động ảnh hưởng khá lớn đến diện mạo đời sống xã hội và làm biến hóa 1 số ít đia danh do nhu yếu tổ chức triển khai hành chánh. Như Hàm Tân có lúc chỉ còn mấy xã vùng ven vào thời chính sách cũ, La Gi nằm trong xã châu thành Phước Hội. Sau giải phóng 1975, La Gi chia làm 2 xã Hoà Lợi, Thọ Lộc nhập lại thành xã Tân Hoà rồi lên thị xã La Gi. Gần đây, những nhà nghiên cứu tận tâm đều tán đồng việc trở lại địa điểm xưa khi đặt tên khu công trình, tên đường, tên thôn xã … dù là địa điểm đó nghe có vẻ như quê mùa, chân chất. Như Chợ Gạo, Hòn Đất, Năm Căn, Cai Lậy … lại có giá trị lịch sử vẻ vang và sâu nặng trong tình cảm của con người ở đó. Với khuynh hướng cải cách, ý tưởng sáng tạo “ phả hệ ” cho cỗ máy hành chánh mà đặt tên xã giống hệt một chữ đầu như Tân, Hàm, Thuận, Tiến, Hiệp … tuy có cái hay nhưng cũng chưa ổn về mặt lịch sử vẻ vang. Tam Tân, từ thời xưa nơi ấy có đồn binh trong toàn cảnh hoang sơ qua câu thơ :
Phong táp sơn yêu truyền pháo hưởng
Triều phiên hải giác trợ bề thanh .
Tạm dịch :
Gió giật sườn non rền tựa súng
Sóng dồi góc biển trống âm vang
.
Rõ ràng từ La Di cũng không thể là từ Hán Việt hoá, nếu liên hệ các địa danh trong tỉnh như La Gàn, La Dạ, La Giang, La Ngâu, La Ngà… và ở tỉnh Ninh Thuận cũng có con sông La Gi tức sông Pha (Krông Pha) thì nghĩ đến những địa danh này có nguồn gốc của dân tộc miền núi hoặc Chăm. Theo người Chăm cũng có địa danh Ladik, có thể là La Di? Nhưng vì sao từ Di lại trở thành Gi, ở Phù Cát (Bình Định) có một làng biển cũng có tên Đề Gi, xưa thuộc huyện Phù Ly. Trước năm 1975 có cuốn sách với tựa “Nguồn gốc Mã Lai” của nhà văn Bình Nguyên Lộc đề cập đến địa danh La Gi và đã suy luận “có lẽ là Sagi đánh nhau với Sanla, tức lại còn đánh nhau với Chân Lạp” và ông viết “từ câu Camy La gi lì cá y, từ riêng của Chăm (đàn bà mà còn là đàn ông). La Gi có nghĩa lại còn, mà vùng đất này xưa là của Phù Nam, rồi của Chăm. Cả hai dân tộc đều nói tiếng Mã Lai đợt nhì”. Còn có ý tưởng lãng mạn hơn, lấy chuyện tình ly tan của sự tích Hòn Bà bằng cách đọc trại ra (gia đình ly tan) thành La Gi !
Rất nhiều địa điểm không thể nào xác lập được nguồn gốc dân tộc bản địa, ý nghĩa thực vì không theo một nguyên tắc nào cả, mà đây là trường hợp thuộc qui luật biến hóa qua nhiều hình thức ngữ âm, từ một tên gọi địa phương rồi được chuyển hoá thành địa điểm hành chánh. Do đó rất dễ nhầm lẫn nếu chỉ địa thế căn cứ hình thức ngữ âm và chính tả hiện tại để diễn giải, suy luận. Trong đó, địa điểm La Gi không nằm trong nguyên tắc phân loại thường thì, cũng không theo tiêu chuẩn tự nhiên .
TÊN GỌI MŨI KÊ GÀ

Hòn đảo Mũi Kê Gà đã có lịch sử tồn tại cả trăm năm, nhưng tên gọi của nó xuất xứ từ đâu, tại sao lại có tên như vậy và ý nghĩa của nó là gì? Bài viết sưu tầm dưới đây của ad có thể giải đáp thắc mắc phần nào các câu hỏi trên! Mọi người cùng đọc để có thêm thông tin bổ ích nhé!!!!
Giả thiết 1: Sở dĩ có tên gọi Khe Gà hay còn gọi là Kê Gà vì mũi đất có khe giống đầu mỏ của một con gà.
Giả thiết 2: Đây là một phần đất tách rời từ núi Cẩm Kê mà trong sách Đại Nam nhất thống chí ghi là Kê Dữ (tức “Đảo Gà”), là vì nơi đây có đàn gà rừng với màu lông sặc sỡ sống bên khe suối có dòng nước ngọt chảy ra biển.
Từ đó tên gọi Mũi Kê Gà hoặc Mũi Khe Gà bắt nguồn từ đây .
Trong văn bản hành chính thường viết là Kê Gà, nhưng có quan điểm cho rằng, viết đúng phải là Khe Gà ! ! !
TÊN GỌI PHAN THIẾT

Nguồn gốc tên gọi Phan Thiết
Có 1 số ít giả thiết về tên gọi của Phan Thiết và hầu hết đều gật đầu rằng, “ Phan Thiết ” không phải là một cái tên thuần Việt :
Khi chưa có người Việt định cư, người Chăm gọi vùng đất này là “Hamu Lithít” (Hamu nghĩa là xóm ruộng bằng, Lithít nghĩa là ở gần biển). Khi bắt đầu có người Việt định cư, vẫn chưa ai có ý định đặt ngay cho vùng đất này một tên gọi mới bằng tiếng Việt. Lâu dần, âm cuối “Lithit” lại được gắn liền với âm “Phan” tách từ phiên âm của tên hai vùng Phan Rang, Phan Rí mà thành ra Phan Tiết (tên gọi ngày xưa) và sau này người ta gọi chuẩn với cái tên là Phan Thiết.
Người Việt đã phiên âm lại cách gọi tên của người Chăm trước đó: Mang-lang (Phan Rang), Mang-lý (Phan Rí), Mang-thít (Phan Thiết). Ba địa danh này được gọi chung là “Tam Phan”.
Po Thit (hoàng tử em của công chúa Po Sah Inư, con của vua Chăm Par Ra Chanh, tức Trà Chanh) đóng đồn trấn ngữ vùng đất này vào thế kỷ XIV được người Việt đọc trại ra mà thành Phan Thiết.
Ngày nay, từ “ Phan ” còn Open nhiều trong những địa điểm ở tỉnh Bình Thuận như : Sông Phan, Phan Rí Cửa, Phan Rí Thành, Phan Lâm, Phan Sơn …
Phan Thiết: Đây là sự biến dạng của từ Chăm HAMU LITHIT (Ruộng Lithit). Người Chăm thường gọi tắt là Mu Thit, nên trước đây được phiên âm là Man Thiết (thời Pháp thuộc) trước khi trở thành Phan Thiết của ngày hôm nay.
TÊN GỌI CÀ NÁ

Trước đây cũng như hiện nay, Cà Ná là một địa điểm du lịch của cực nam Trung bộ, nổi tiếng về cảnh đẹp núi biển ôm sát nhau. Cà Ná còn là vùng có những cây mai vàng năm cánh rất đẹp. Mỗi độ xuân về, toàn đồi núi khu vực này rực lên một màu vàng nhạt tựa như một bức tranh huyền ảo…
Cách biển một cây số về hướng Tây, tọa lạc một làng Chăm – làng Rabha Ralauw – nay không còn nữa. Phía trên nữa có con suối nước rất trong, chảy róc rách quanh năm; trước kia người dân địa phương gọi là Suối Tiên, ngày nay chính là Suối Vĩnh Hảo…
Lúc bấy giờ, từ “Quốc lộ số 1″ (ngày nay), lại có một con đường tẻ lên làng Chăm và Suối Tiên. Ngã ba đó, người Chăm gọi là Canah kluw (đọc là Chanah klău); Canah có nghĩa là tẻ ra, kluw nghĩa là ba (ngã ba).
Người Việt đọc trại ra thành “Cà ná lâu”, về sau chữ “lâu” này rụng đi, chỉ còn lại “Cà na”.
TÊN GỌI SÔNG MAO

Sông Mao là một địa danh thuộc tây bắc huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận, trước đây (sau giải phóng) là huyện lỵ của huyện Bắc Bình.
Theo hiểu biết của chúng tôi, từ Sông Mao có nguồn gốc khá lí thú! Qua sự giải thích của một thân hào Chăm, chúng ta có thể hiểu như sau:
Trong khu vực Sông Mao bây giờ có đồng ruộng của người Chăm tục gọi là Hamu Pa-auk (đọc là pa-ó, nghĩa là cây xoài). Cạnh ga Sông Mao có một con sông nhỏ người Chăm gọi là kraung pa-auk. Người Kinh dịch thành SÔNG PA-Ó. Chuyển đổi âm từ P của Chăm sang M của Việt: từ Sông Pa-ok được viết là Sông MA-Ó. Vả lại thời Pháp thuộc dấu sắc ở nguyên âm o không thể hiện được trên máy đánh chữ (ó thành o), vì vậy trong các văn bản hành chánh thời đó ta thường thấy viết Sông Ma-o. Sau này, dấu ngang rụng đi do cách đọc gộp thành một âm của những người Pháp (thời Pháp thuộc), cuối cùng ta có từ SÔNG MAO của ngày hôm nay.
TÊN GỌI MŨI NÉ

Mũi Né nổi tiếng với biển xanh cát vàng, là một trung tâm du lịch nổi tiếng ở Phan Thiết. Mũi Né được mệnh danh là “thủ đô” resort của Việt Nam.
Mũi Né thuộc địa phận phường Mũi Né, Tp. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, cách TT Tp. Phan Thiết 22 km về hướng đông bắc. Mũi Né là là một điểm du lịch quen thuộc, dọc theo quốc lộ 706, từ TT Tp. Phan Thiết đến Mũi Né là một dãy đồi đất thoai thoải và bãi cát ven biển rộng, thoáng mát với những rặng dừa tuyệt đẹp. Mũi Né có bãi biển nông thoải, nước sạch và trong, nắng ấm quanh năm, không có bão, là nơi tắm biển, nghỉ ngơi lý tưởng dành cho hành khách. Mũi Né có nhiều bãi biển hoang sơ nguyên thủy, chưa có sự khai thác của con người, cảnh sắc hùng vĩ, thiên nhiên và môi trường vạn vật thiên nhiên trong lành, như bãi Ông Ðịa, bãi Trước và bãi Sau .
Tên gọi Mũi Né xuất phát từ công chúa Út của vua Chăm là công chúa Chuột – tương truyền vùng đất này của người Chăm, xưa kia lau sậy mọc sum sê. Công chúa Chăm năm 16 tuổi mắc bệnh nan y, về sau kiến thiết xây dựng miếu Am để tu tại Hòn Rơm. Từ đó lấy biệt danh là bà Nà Né – lâu dần người dân đọc trại chữ Nà Né thành Mũi Né. Né là tên của công chúa Út – Mũi là mũi đất đưa ra biển và Mũi Né có tên gọi từ đó .
Cũng có thuyết lý giải rằng tên gọi Mũi Né xuất phát từ việc ngư dân, mỗi khi đi biển gặp bão, thường đến đây nương náu. “ Mũi ” là cái mũi đất đưa ra biển ; “ Né ” có nghĩa là để tránh mặt. Mũi Né là nơi có sự hòa giải giữa màu vàng của cát, màu óng của nắng và màu xanh thẳm của biển tạo cảm xúc ấm cúng và trong lành, lôi cuốn rất nhiều hành khách .
TÊN GỌI HÒN RƠM

Địa danh Hòn Rơm có tên trên map Bình Thuận là Long Sơn – thuộc ấp Long Sơn, phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết, cách TT tỉnh lỵ Bình Thuận 26 km. Long Sơn là ngọn núi nhỏ, nhô ra biển Đông, cao hơn 50 m. Mùa mưa, cỏ xanh tươi. Mùa nắng, cỏ vàng úa, nhìn từ xa tựa như ụ rơm ở quê nên được gọi là Hòn Rơm. Nghe nói trên núi có bàn cờ Tiên. Trước năm 2000, tôi đã một mình lên đó vài lần, chỉ gặp mấy cây thân bụi và những đứa trẻ chăn bò. Dưới chân núi, phía nam có đền thờ “ Nam Hải tướng quân ” ( cá voi ). Vách núi phía đông – nơi chim biển buổi chiều thường về tụ hội, có cả dấu vết thân cây hóa thạch trên đá. Trước đây, từ Phan Thiết, xe hơi chỉ đi tới Mũi Né là hết đường, phải đi xe ôm chạy ven biển hoặc xe 2 cầu chạy được trên cát. Sự kiện nhật thực toàn phần ngày 24.10.1995 đã thức tỉnh nàng công chúa xinh đẹp là “ du lịch Bình Thuận ” thức dậy sau bao năm ngủ yên. Nàng thấy mình đẹp, thiên hạ càng thấy nàng đẹp hơn và du lịch mở màn tăng trưởng từ đó .
TÊN GỌI CÁC ĐỊA DANH CÓ CHỮ TÀ

Tên là Tà Dôn, nhưng cũng có người đọc là Đôn (hay Đon), có lẽ vì sợ sai lạc chăng mà sau 1975 người ta đổi là Tà Zôn.
Nghĩa của tên này chưa rõ, nhưng hoàn toàn có thể khẳng định chắc chắn đây là một địa điểm được hình thành qua quy trình tiếp xúc giữa những dân tộc bản địa trên vùng đất này và được Việt hóa. Nếu theo “ thói quen ”, trong thời điểm tạm thời giải nghĩa là “ ông thần Don ” .
Theo nhiều người kể thì đất Bình Thuận có bốn ngọn núi thiêng và nhà nghiên cứu hải ngoại Nguyễn Đức Hiệp có kể ra là “ Tà Cú, Tà Ban, Tà Lễ và Tà Đôn ” ; nhưng cũng có người nói là Bình Thuận có “ ngũ tà ”. Có sự khác nhau về tên của những “ ông Tà ” trong “ tứ tà ” hay “ ngũ tà ” của Bình Thuận, hoàn toàn có thể kể ra những tên được nhắc đến :
– Tà Cú (Tà Kú, Tà Kou) : tên ngọn núi nổi tiếng nhất tại huyện Hàm Thuận Nam.
– Tà Zôn (Tà Don, Tà Dôn) : tên ngọn núi nổi tiếng nhất tại huyện Hàm Thuận Bắc.
– Tà Pao (hay Tà Bao ?) : Năm 1999 có tin Đức Mẹ hiện thân tại vùng núi Phương Lâm thuộc huyện Tân Phú tỉnh Đồng Nai; theo giải thích của chính quyền thì sau đợt lũ lớn vào tháng 7/1999 đã tạo ra một rãnh đá cao vài trăm mét trong khe núi, khi ánh nắng chiếu vào, cùng với hơi nước bốc lên đã tạo nên hiện tượng cầu vồng quang học, nhìn xa người ta tưởng tượng là Đức Mẹ (vùng này có rất đông các giáo xứ và giáo dân Thiên Chúa). Sau hiện tượng này, các vị Linh mục xác nhận trong khu rừng Tà Pao thuộc xã Đồng Kho huyện Tánh Linh tỉnh Bình Thuận giáp ranh, có tượng Đức Mẹ cao khoảng 4 mét, được dựng lên từ năm 1959 rồi do chiến sự nên bỏ hoang. Thế là người ta đổ xô đến Tà Pao để mong nhìn thấy hiện thân của Mẹ và để cầu xin. Ngày nay nơi đây trở thành trung tâm hành hương Đức Mẹ Tà Pao khá nổi tiếng của Thiên Chúa giáo. Tượng được đặt trên một ngọn núi nhỏ, nhiều người gọi đó là núi Tà Pao.
Thực tế, Tà Pao là tên của cả vùng. Vùng này có trạm thủy văn Tà Pao trên sông La Ngà. Có dự án Bất Động Sản khu công trình thủy lợi Tà Pao lấy nước từ sông La Ngà và từ nguồn nước xả của xí nghiệp sản xuất thủy điện Hàm Thuận – Đa Mi để Giao hàng nước tưới cho khoảng chừng 25.000 ha đất canh tác thuộc huyện Tánh Linh cùng huyện Đức Linh tỉnh Bình Thuận và huyện Tân Phú cùng Xuân Lộc thuộc tỉnh Đồng Nai ( tổng số vốn góp vốn đầu tư ước tính hơn 2.500 tỉ đồng, dự kiến thi công năm 2008 ). Nhưng không tìm thấy ngọn núi vô danh nào “ đủ lớn ” để xứng tầm là một “ ông Tà ” cả ngoài một núi khá lớn bên tả ngạn sông La Ngà, phía đông TT Tánh Linh có tên là núi Ông với đỉnh điểm nhất là Dang S’Ruin cao 1302 mét. Còn ngọn núi có tượng Đức Mẹ chỉ là một ngọn đồi trong số nhiều ngọn đồi khác ở vùng trung du này .
Ngoài ra có một thông tin nhỏ nhắc về chuyện kho tàng của vua Chế Bồng Nga chôn trong núi Tà Pao. Ái chà, cả vùng này có vô số ngọn đồi ( núi nhỏ ) không biết là ngọn nào đây ?
– Tà Pứa : tên một thôn của xã Đức Phú, huyện Tánh Linh; thôn có nhiều đồng bào dân tộc K’Ho sinh sống. Nơi có người nông dân đầu tiên đã mang nghề trồng dó tạo trầm về cho Tánh Linh và tỉnh Bình Thuận. Địa bàn thôn có tuyến Tỉnh lộ ĐT713 nối Đức Linh với Quốc lộ 20 (Lâm Đồng), có đèo Tà Pứa và cạnh đèo là một hệ thống nhiều thác nước đẹp như thác Đầu Trâu, thác Trượt; trong đó hùng vĩ nhất là thác Mưa Bay với độ cao 40 mét. Nhưng không tìm thấy tài liệu tin cậy nào nhắc về núi Tà Pứa !
– Tà Đôn : chưa tìm thấy tài liệu đáng tin cậy nói về ngọn núi hay địa danh này. Có lẽ là do chữ Tà Don đọc ra chăng ?
– Tà Ban : chưa tìm thấy tài liệu đáng tin cậy nói về ngọn núi hay địa danh này.
– Tà Mon : tên một thôn được hình thành sau năm 1975 thuộc xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam. Có cổng xe lửa tên Tà Môn; có cầu Tà Mon trên quốc lộ 1A (km1746+299); có hồ thủy lợi Tà Mon giúp nước tưới cho nông dân trong vùng trồng thanh long; có rừng Tà Mon thuộc rừng phòng hộ Sông Móng – Ka Pét nhưng đã bị lâm tặc tàn phá cộng thêm cư dân quanh vùng khai hoang làm “trang trại”. Nhưng không thấy có ngọn núi nào mang tên này. Quanh Tà Mon, hướng Nam có đỉnh Núi Nhọn cao 569 mét, hướng Bắc có đỉnh núi Giang Co cao 342 mét và xa hơn nữa (băng qua đường sắt, về hướng Tây Bắc) có đỉnh núi Nhan cao 386 mét.
– Tà Lể : không rõ, có thể có thôn tại huyện Tánh Linh mang tên này nhưng không tìm thấy ngọn núi Tà Lể.
Do chưa tìm thấy nguồn tư liệu đáng an toàn và đáng tin cậy nào nói về “ ngũ tà ” hay “ tứ tà ”, ta chỉ nên nói có “ hai ông tà ” điển hình nổi bật nhất, gắn liền với thành phố Phan Thiết mà thôi : “ Quê em ở giữa hai tà, … ”
TÊN GỌI SÔNG CÀ TY

Theo 1 số ít tài liệu, tên gọi Cà Ty Open trên map từ năm 1898 khi Phan Thiết được công nhận là thị xã của tỉnh Bình Thuận. Còn đúng chuẩn người dân Phan Thiết sử dụng tên gọi Cà Ty từ khi nào, thì không ai biết được. Chỉ biết rằng, cho đến thời điểm ngày hôm nay cái tên Cà Ty như một phần không hề thiếu mỗi khi nhắc đến thành phố Phan Thiết .
Bình Thuận có cả thảy 7 dòng sông chính. Có cùng đặc thù chung : đa số nhỏ hẹp, độ dốc cao, mùa mưa đầy ắp nước còn mùa nắng thì cạn nhách, thậm chí còn khô cằn ; nhưng mỗi dòng lại mang một nét riêng. Trong đó, Cà Ty có phần độc lạ. Khác với dòng La Ngà, sông Cái, sông Phan … sông Cà Ty được ca tụng là dòng sông thủy triều. Vào mùa nắng, khi nước đầu nguồn của dòng Mường Mán hết sạch, không đủ sức đổ về cửa biển, thế mà Cà Ty vẫn có nước quanh năm. Nếu là người Phan Thiết, ai cũng hoàn toàn có thể thấy hiện tượng kỳ lạ này. Nhưng, có khi nào tất cả chúng ta dừng chân bên bờ sông để khám phá điều đó ? Có lẽ, chỉ những tình nhân lắm dòng sông mới vướng mắc, tìm hiểu và khám phá nguyên do, cho rõ cội nguồn. Sở dĩ dòng Cà Ty có nước quanh năm là vì đáy sông thấp hơn mực nước biển. Khi dòng sông cạn, triều lên đẩy nước từ cửa biển Cồn Chà tới tận đập Phú Hội. Vì là nước triều từ biển tràn vào, nên sông Cà Ty là sông nước lợ. Và đâu đó trên dòng sông này, người ta vẫn thường thấy dân chài bủa lưới ven sông. Sản vật bắt được là cá, là tôm, là cua, là ghẹ … nguồn gốc từ biển cả .
Nếu bạn có quan điểm khác hoặc những thông tin khác vui mừng comment bên dưới. Chân thành cảm ơn
Chia sẻ:
- Thêm
Thích bài này:
Thích
Đang tải …
Liên quan
Source: https://wada.byxar.com
Category: Vòng quanh đất nước




